Giấc mơ Mỹ

Khi bài báo này đến tay bạn đọc, sáng 5.11, có thể đã có những thông tin sơ bộ cho biết ai sẽ là tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khi chúng tôi đang gõ những dòng chữ này, hãng thông tấn AP của Mỹ nói rằng, kết quả thăm dò từ những người đi bỏ phiếu sớm cho thấy, ưu thế đang nghiêng về ứng cử viên Dân chủ. Đối với truyền thông Mỹ, “cuộc chơi đã kết thúc” từ mấy tuần nay, họ tin Barack Obama đắc cử.

Chỉ mới chính thức bước vào chính trường năm 2004, lại là người Mỹ gốc Phi, việc Obama trở thành tổng thống của cường quốc số một này sẽ được bàn đến ở khắp nơi. Mỹ có tổng thống da đen tưởng chỉ có thể là câu chuyện xảy ra trong Hollywood. Năm 1963, khi đứng trước đài tưởng niệm tổng thống Abraham Lincoln, đọc diễn văn bất hủ Tôi có một giấc mơ, có lẽ Luther King cũng không thể mơ rằng, 45 năm sau đó, sẽ có một người da đen làm tổng thống. Những năm ấy, nước Mỹ vẫn đang nói về câu chuyện bốn sinh viên da đen ở North Carolina bị bắt khi ngồi lì (sit-in) trong một quầy ăn trưa dành cho sinh viên da trắng.

Năm 1776, khi viết bản Tuyên ngôn độc lập với lời mở đầu: “Thượng đế sinh ra ai cũng có quyền bình đẳng…”, Thomas Jefferson vẫn sở hữu nô lệ. Cả những nhà cách mạng Mỹ ký vào bản Tuyên ngôn độc lập ấy vẫn sở hữu nô lệ trong trang trại của mình. Bình đẳng là một khái niệm, khi ấy, chỉ được dùng cho những người đàn ông có tiền, da trắng.

Năm 1861, khi Abraham Lincoln chưa kịp làm lễ nhậm chức tổng thống, bảy bang miền nam nước Mỹ đã tuyên bố ly khai vì tư tưởng của ông: “Chính phủ không chấp nhận một xã hội có nô lệ”. Ngay sau đó, chiến tranh xảy ra và cuộc nội chiến giữa các bang miền bắc và miền nam kéo dài suốt bốn năm (1861 – 1865), đã cướp đi sinh mạng của 970 nghìn người Mỹ. Gần một triệu người Mỹ, chủ yếu là da trắng, đã chết vì lý tưởng đưa lại tự do cho người da đen. Mặc dù, tổng thống Lincoln đã có Tuyên ngôn giải phóng nô lệ từ năm 1862, nhưng phải đến năm 1865, Tu chính án thứ 13 mới chính thức trao quyền tự do cho nô lệ.

Tính khốc liệt của cuộc “chiến tranh giải phóng nô lệ” chưa chấm dứt ngay sau đó. Tối 14.4.1865, tức là chỉ năm ngày sau khi tướng miền nam Robert Lee đầu hàng, Abraham Lincoln bị ám sát khi đang xem kịch tại Sumter, nơi mà bốn năm trước đó xảy ra trận đánh khởi đầu nội chiến. Được giải phóng khỏi thân phận nô lệ, nhưng những người da đen không dễ có tự do ngay. Chính tối cao Pháp viện Mỹ, hồi cuối thế kỷ 19, đã có ít nhất bốn lần cho phép các tiểu bang có những đạo luật chế áp hoặc tước đi quyền bầu cử cùng với những quyền tự do khác của những người da đen. Họ đã phải chiến đấu kể cả bằng máu để có được những chỗ đứng mà những người như Obama đang “đứng”. Một trong những chiến sĩ da đen phải nói đến trong cuộc chiến đó là Rosa Parks.

Cho tới năm 1955, theo luật của nhiều tiểu bang, những người da đen khi đi xe buýt phải ngồi ở những hàng ghế phía sau và bất cứ lúc nào có yêu cầu đều phải nhường chỗ cho những người da trắng. Ngày 1.12.1955, ở bang Alabama, bà Rosa Parks, năm ấy 42 tuổi, leo lên một chiếc xe buýt và ngồi vào hàng ghế phía trước, phần được ghi là “dành riêng cho người da trắng”. Dù được yêu cầu, Rosa Parks vẫn không chịu đứng lên. Bà bị bắt. Việc bắt giữ Rosa Parks đã khiến cho những nhà lãnh đạo cộng đồng da đen của thành phố Montgomery, trong đó có Martin Luther King Jr., nhóm họp ngay trong đêm và quyết định: “Những người da đen sẽ tẩy chay xe buýt cho tới khi chính quyền chịu chấm dứt sự phân biệt ấy”. Cuộc đấu tranh của họ đã kéo dài 381 ngày cho tới khi Toà án liên bang yêu cầu chính quyền địa phương thôi áp dụng đạo luật phân biệt đó. Người da đen không thể ăn cơm tại quầy của những người da trắng là câu chuyện vẫn xảy ra ở Mỹ trong thập niên 60. Mãi tới năm 1964, tức là đúng 99 năm sau khi Hiến pháp công nhận quyền tự do cho người da đen, đạo luật Dân quyền mới ra đời cấm kỳ thị người da đen (thiểu số) tại các tiện nghi công cộng. Gần một thập niên sau đó, một đạo luật khác (Affirmative Action), mới cho phép những người thiểu số làm việc trong các cơ quan nhà nước và trong ngành giáo dục Mỹ.

Lịch sử chắc chắn sẽ ghi nhận ngày Obama chính thức được đảng Dân chủ đề cử trong đại hội của mình. Nhiều người da đen Mỹ chứng kiến ngày đảng Dân chủ đề cử Obama, có cảm giác giống như năm 1963 nghe Luther King đọc Tôi có một giấc mơ. Báo chí Mỹ và những người cấp tiến khác đã không tiếc lời để ủng hộ Obama, ủng hộ cho giấc mơ chỉ có thể xảy ra trong nền dân chủ Mỹ.

Đảng Dân chủ có một cơ hội to lớn để dành ngôi tổng thống khi dân chúng Mỹ đã quá mệt mỏi với chiến tranh và khủng hoảng kinh tế. Cho dù, những người am hiểu chính trường biết rằng tổng thống là một định chế tác động không nhiều tới nền kinh tế Mỹ. Nhưng, sự sụp đổ tín dụng hiện nay là cơ hội ngàn vàng để Dân chủ đổ hết lên vai Tổng thống Bush. Nhiều nhà quan sát tin rằng nếu Obama không phải là một người da đen thì chủ nhân Nhà Trắng chắc chắn nhiệm kỳ này sẽ về tay Dân chủ.

Mặc dù bị dẫn trước gần chục điểm, thượng nghị sĩ John McCain không phải là người dễ dàng bị đánh bại. Nổi tiếng bởi từng là tù nhân ở Hoả Lò, nhưng uy tín mà John McCain có được là nhờ ở những cống hiến xuất sắc của ông kể từ khi trở thành nghị sĩ. Ông được kính trọng bởi sự trung thành với quyền lợi quốc gia thay vì quyền lợi của đảng phái. Nhưng, ngoài di sản bất lợi của Tổng thống Bush, ông McCain còn khiến cho cử tri Mỹ băn khoăn khi ông đã 72 tuổi trong khi người phó của ông, bà Palin, lại bị coi là còn đang “nhí nhảnh”.

Cho dù, về mặt kỹ thuật, lá phiếu cử tri gốc Việt ở Mỹ hầu như không ảnh hưởng gì tới lần bầu cử này. Nhưng, nếu như sự lựa chọn của đa số người Việt trước đây là “Cộng hoà” thì nay, quyết định của họ không hề đơn giản thế. Điều mà những người Việt băn khoăn vừa là điểm chung của nhiều người Mỹ khác vừa có những điểm riêng. Thượng nghị sĩ John McCain, từ cuối thập niên 80, đã vận động tích cực cho nhiều chính sách hình thành cộng đồng người Việt ở Mỹ hiện nay. Cho dù ông bị một số người Việt ở Mỹ phản đối khi đồng thời ủng hộ bình thường hoá với Việt Nam, cộng đồng vẫn coi John McCain là ân nhân của họ. Nhưng, cũng những người Việt ấy lại rất muốn bỏ phiếu cho Obama. Một người Việt sinh sống ở vùng Virginia nói rằng: “Chúng tôi vừa muốn trả ơn ông McCain, vừa muốn bỏ phiếu cho Obama khi nghĩ đến thế hệ con em, vì nếu Obama thắng cử thì cái “trần kính” ngăn cách cơ hội của những người da màu có thể được coi như phá bỏ”.

Cái “trần kính” ấy chưa hẳn sẽ được dễ dàng phá bỏ như những gì chúng ta thấy qua truyền thông Mỹ. Thật khó mà biết rõ những người Mỹ (đa số) không tham gia các cuộc thăm dò, những người Mỹ thầm lặng, thực sự nghĩ gì. Một số tờ báo lớn cố gắng thuyết phục công chúng rằng, màu da không phải là vấn đề trong lần bầu cử này. Nhưng, Issac Farris, cháu của nhà lãnh đạo da đen Luther King cho rằng: “Đầu óc kỳ thị chủng tộc đã ăn sâu hơn hai thế kỷ… (Và nay), điều đó vẫn luôn tồn tại dưới cái vỏ bề ngoài của xã hội Mỹ”. Báo chí, sinh viên, những người Mỹ trẻ tuổi đang hoạt động tích cực cho Obama. Họ có khát vọng tạo ra những giá trị mà họ tin rằng chỉ có ở những xã hội thực sự có dân chủ tự do mới có thể tạo ra được. Nhưng, những khát vọng ấy đã là hiện thực hay vẫn còn là xu hướng thì phải đợi đến cuối ngày hôm nay, 5.11 (giờ Việt Nam), để xem những người Mỹ thầm lặng đã quyết định ra sao cho niềm tin của họ. Sẽ thật là một thay đổi rất vĩ đại nếu người đắc cử là thượng nghị sĩ Obama. Nhưng nếu một tổng thống da đen vẫn chỉ là giấc mơ thì với nhiều người cũng không phải là một điều bất ngờ quá.

Huy Đức

Advertisements
Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: