Sau Bà Ba Sương Là Các “Nông trường Viên”

Có lẽ không có dẫn chứng nào đáng tin cậy hơn cho thấy vai trò của “Đất” trong vụ án bà Trần Ngọc Sương như phát biểu được ghi âm của ông Phạm Thanh Vận ngày 25-10-2007: “Chị nghỉ nhưng làm sao cho hạ cánh an toàn trong danh dự nếu giao lại đất Nông trường”.Những diễn tiến vừa qua cho thấy, cho dù bản án không được tuyên hủy thì chưa chắc bà Ba Sương đã phải ở tù; sự phản ứng của báo chí cũng đã bảo vệ được danh dự cho bà Ba Sương vì có vẻ như rất ít người tin bà Ba Sương có tội. Nhưng, dư luận dường như chỉ biết đến 110 người ký đơn xin ở tù thay cho bà Ba Sương, ít ai nói tới số phận của 15.000 nông dân ở đây một khi đất Nông trường biến thành dự án.

Rõ ràng là cha con bà Ba Sương đã thiết lập khá thành công môi trường xã hội chủ nghĩa, để 15.000 nông trường viên được thụ hưởng về y tế, giáo dục, điện, đường, văn hóa, phong trào… cao hơn mức sống của người dân trong vùng. Theo số liệu năm 2006, trong khi tỉ lệ hộ nghèo của TP Cần Thơ là 8%; của huyện Cờ Đỏ là 12%; thì, tỉ lệ này ở Nông Trường chỉ là 2%. Tuy nhiên, so với những người nông dân xung quanh, nông dân nông trường Sông Hậu tuy vẫn chân lấm tay bùn nhưng không hề có trong tay tấc đất. Sẽ là bi kịch nếu như cứ tuyên bố 6.924 hecta đất đai mà những nông dân này canh tác, đã bồi bổ suốt 30 năm qua là đất đai của nông trường quốc doanh rồi làm dự án mà không bồi thường cho họ.

Trong số 6.924 hecta đất của nông trường Sông Hậu chỉ có một phần thực sự là khai khẩn đất từ khu quân sự; 4.313 hecta có hồ sơ chứng minh là đất tổ tiên của những “nông trường viên” ở đây. Năm 1993, khi nông dân khắp cả nước được hưởng chính sách mới quy định trong Luật Đất đai- được “giao” một số quyền trên chính ruộng đất của cha ông- nông dân nông trường Sông Hậu cũng đòi lại đất. Lúc ấy nông trường Sông Hậu đã là một mô hình nổi tiếng từ Nam chí Bắc, cha con bà Ba Sương tuy chưa chính thức được vinh danh nhưng đã xứng đáng là anh hùng của Đảng. Nếu năm ấy họ trả lại ruộng đất cho nông dân rồi trở thành trung tâm khai thác các dịch vụ về vốn liếng, con giống, công nghệ và thị trường… cho các nông trường viên thì ông Năm Hoằng, bà Bà Sương sẽ còn được nông dân tôn vinh như là những anh hùng của họ. Nhưng, năm 1993, ông Năm Hoằng đã bảo vệ “chủ nghĩa xã hội” thành công, chỉ nhân nhượng bồi thường cho 2.300 hộ dân ở đây 16,78 tỷ đồng. 16,78 tỷ đồng cho 4.313 hecta và như báo cáo của Nông trường: “Để Nhà nước ngày hôm nay có gần 7.000 hecta đất”.

Nông trường Sông Hậu đúng là một điển hình tự lực: trong suốt thời kỳ đầu khó khăn, 1979-1992, ông Trần Ngọc Hoằng chỉ nhận từ vốn ngân sách có 64 triệu đồng; năm 1997, 600 triệu; 2003, 2,1 tỷ; năm 2004, 1,4 tỷ; năm 2005, 3,6 tỷ. Trong đó các khoản vốn từ năm 2003, theo Nông trường là vốn Ngân sách chi cho chương trình phát triển đàn bò sữa của Cần Thơ. Ngoài ra, năm 2002, Nhà nước đã hoàn lại 16,22 tỷ đồng trong tổng số 16,78 tỷ mà Nông trường đã chi cho nông dân để có quyền sử dụng 4.313 hecta đất. Trong khi đó, từ năm 1991 đến năm 2002, Nông trường Sông Hậu đã nộp vào cho Ngân sách 135,6 tỷ. Tuy rằng, những khoản tiền ấy đều thu của nông dân nhưng chủ yếu để nông trường trả lãi vay ngân hàng, dùng để đầu tư trở lại cho hạ tầng… chính Thanh tra cũng không phát hiện ra điều gì khuất tất. Những hồ sơ mà Cần Thơ sử dụng: Bà Ba Sương lấy tiền Nông trường mua đất đứng tên tư nhân trong đó có thân nhân của bà, chủ yếu là vấn đề thủ tục. Những người này chỉ đứng tên giùm vì nếu đứng tên “tổ chức” thì Nông trường phải dối trá làm “dự án” báo cáo tốn kém, nhiêu khê. Những trường hợp đất đứng tên tư nhân, bán ra trước khi có đoàn Thanh tra đếu có chứng từ tiền bạc được thu nộp cho nông trường thay vì cá nhân đó hưởng. Tuy nhiên, “thành tích” thì đúng là của cha con bà Ba Sương, nhưng “của” thì được làm ra chính bởi 15.000 nông trường viên.

Hầu hết đất đai của nông trường (5.568 hecta) được khai thác bằng “5 hình thức giao khoán” cho các hộ nông dân. Chỉ những người được công nhận là “công nhân nông nghiệp” hoặc “đóng thế chân” 4 tấn thóc/hecta mới được “giao khoán dài hạn”; những trường hợp khác chỉ được “giao khoán hàng năm”. Ngoài “định mức khoán” phải đóng như “công nhân”, những người nhận khoán ngắn hạn còn phải đóng thêm 1 tấn lúa cho mỗi hecta một năm. Trong khoảng thời gian từ 2003-2005, các “nông trường viên” còn phải nộp cho Nông trường một khoản thu khác gọi là “bảo hiểm rủi ro hợp đồng sản xuất” theo mức 15 triệu đồng/hecta, ai có thì nộp tiền mặt cho nông trường, ai không có thì nông trường bảo lãnh cho nhận nợ ở ngân hàng. Trong khoảng từ năm 1997 đến năm 2001, nông dân còn phải “thỏa thuận” với Nông trường đóng 200 kg thóc/hecta một năm để “xây dựng các công trình thủy lợi, giao thông và xây dựng nông thôn”. Những phúc lợi mà các “nông trường viên” được hưởng ở đây nhiều hơn so với những nông dân ở xung quanh thực ra là được tạo ra bằng chính đồng tiền của họ. Có thể những người dân nơi khác cũng phải đóng góp, có thể ở nơi khác Ngân sách đã đầu tư nhiều hơn, nhưng có lẽ nhờ “Chính quyền của cha con bà Ba Sương” đã không tư túi, xà xẻo, nên người dân đã được hưởng khá đủ những gì họ góp.

Trở lại vụ án bà Ba Sương, tại sao ngay từ đầu tôi chỉ đề nghị “đặc xá” thay vì đòi tuyên vô tội? Đúng là bản án thật bất công nhưng không phải là cơ quan tố tụng địa phương đã hành xử hoàn toàn vô căn cứ. Có thể là cái quỹ ấy lập từ tiền tận dụng, tiết kiệm và chủ yếu chi trở lại cho nông trường viên. Nhưng, nông trường Sông Hậu vẫn là một định chế quốc doanh, tất cả tiền bạc là của nông trường viên làm ra có vai trò lãnh đạo của cha con bà Ba Sương nhưng không có cái gì thuộc sở hữu của người dân hay của cha con họ cả. Ông Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nói: “Một bản án mà dư luận không đồng tình thì rất cần xem xét lại”. Thường dư luận không đồng tình khi họ nhận ra một bản án không phải là công lý. Nhưng, sự bất công trước hết nằm ở chỗ quyền sở hữu tài sản đã không thuộc về những người thực sự làm ra. Báo chí đã phanh phui sự can thiệp của Thành ủy Cần Thơ vào việc khởi tố bà Ba Sương, đã phản đối chính trị thò tay vào công lý. Thì, cũng không nên dấy lên dư luận để dùng chính trị sửa đổi bản án này trừ khi Tòa án Tối cao nhận ra các cơ quan pháp luật địa phương đã vi phạm điều gì trong Tố tụng.

Đặc xá thực ra cũng là một quyền chính trị, đặc quyền của “nguyên thủ quốc gia”, nhưng đó là một quyền Hiến định, có thể được thi hành hàng năm, nó cũng có thể được thi hành khi cần phải giải cứu một bế tắc chính trị mà không làm bẽ mặt các cơ quan Tư pháp. Thủ tục đặc xá hiện nay được Chính phủ quy định ở dạng Nghị định chỉ áp dụng cho những trường hợp đang thụ án và có đơn xin. Nhưng, đấy là thủ tục quy định khi việc đặc xá do các cơ quan Chính phủ (Bộ Công an, quản lý trại giam) trình lên chứ không phải là thủ tục mà Hiến pháp bắt buộc khi Chủ tịch Nước có nhu cầu chính trị. Bà Ba Sương đã làm tất cả để xây dựng một mô hình minh họa cho tính chính đáng của thể chế này mà thể chế không có nhu cầu chính trị bảo vệ bà thì thật là cô đơn cho người phụ nữ ấy.

Nhưng, việc nhiều người lên tiếng bảo vệ bà Ba Sương tuần qua không phải bởi nhu cầu gìn giữ thành trì thể chế. Cha con bà Ba Sương là một biểu tượng sống có lý tưởng, một biểu tượng cho dù thất bại hay thành công người dân vẫn dành cho họ ít nhiều ngưỡng mộ. Việc không để cho địa phương mạnh tay dự án hóa đất đai, không tìm cho mình một nơi hạ cánh an toàn, có lẽ không phải vì bà Ba Sương “cố vị” mà, có lẽ, bà bắt đầu nghĩ đến thân phận của 15.000 nông dân. Những nông dân do thành công của cha con bà mà đất đai của họ giờ đây thuộc về Nhà nước. Đôi khi, con đường đi đến địa ngục lại được dẫn dắt bởi những ý định tốt (The road to hell is paved with good intentions).

Chắc chắn ruộng đất nông trường Sông Hậu, không sớm thì muộn, sẽ trở thành đô thị, có khi sẽ có những tư nhân lắm tiền nhiều bạc tới đó phân lô. Không biết, người ta có nghĩ đến 15.000 nông dân ở đây. Nói đất của nông trường quốc doanh là của Nhà nước thì cũng không ai cãi được. Đất dù có ở đâu thì cũng là của Nước, nhưng có tấc đất nào lại không thấm máu của dân. Xử cái “lý” cũng vẫn cần có “đạo”. Khi nghe lại khuyến cáo của Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ tôi chợt nghĩ, liệu khi mà Cần Thơ lấy đất ở đây có ai sẽ bảo vệ 15.000 nông dân như đã bảo vệ bà Ba Sương? Những bịch quà mà ông Năm Hoằng tặng họ, những thành tích mà các nhà lãnh đạo lấy đó để nêu gương, có mồ hôi của những người nông dân ở đây, có máu của họ đã từng đổ khi khai khẩn sau chiến tranh ở đây. Và, 2.300 hộ có đủ hồ sơ để chứng minh 4.313 hecta đất trong ấy có nguồn gốc là đất gia đình, tổ tiên của họ.

Huy Đức

1. 12. 2009

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: