Đặt Mình Trong Vị Trí Người Dân Văn Giang

Chính quyền Hưng Yên nói họ đã không sai khi tổ chức cưỡng chế 70 hecta đất của 160 hộ dân Văn Giang. Chưa có cơ sở để tin rằng Thủ tướng sẽ nói quyết định này của Hưng Yên là sai như ông đã làm với chính quyền Hải Phòng. Nhưng, cho dù bên thua trận là nhân dân thì hình ảnh hàng ngàn cảnh sát chống bạo động, “khiên-giáo” tua tủa, đối đầu với vài trăm nông dân cuốc xẻng trong tay không chỉ phản ánh mối quan hệ Chính quyền – Nhân dân hiện nay mà còn có tính dự báo không thể nào xem thường được.

Làm luật cũng là Chính quyền, giải thích luật cũng là Chính quyền, chỉ có người dân là thiệt. Kể từ năm 1993, Luật Đất đai theo tinh thần Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi 5 lần. Chỉ riêng các điều khoản thu hồi, nếu như từng được quy định khá chặt chẽ trong Luật 1993, đã trở nên rắc rối và dễ bị lũng đoạn hơn trong Luật 2003.

Điều 27, Luật Đất đai 1993, quy định rằng: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”. Điều Luật tiếp theo còn đưa ra những điều kiện ràng buộc nhằm tránh sự lạm dụng của Chính quyền. Luật sửa đổi 1998 gần như giữ nguyên tinh thần này. Nhưng, đây là thời điểm mà các đại gia bắt đầu phất lên nhờ đất. Tiến trình ban hành chính sách bắt đầu có sự can dự của các nhóm đặc lợi, đặc quyền.

Luật Đất đai 2003 đã đặt rất nhiều rủi ro lên người dân khi điều chỉnh mối quan hệ này thành một chương gọi là Mục 3. Trong phần “Thu hồi đất”, Luật gần như đã đặt những mục tiêu cao cả như “lợi ích quốc gia” ngang hàng với “lợi ích của các đại gia”. Điều 39 định nghĩa những “lợi ích quốc gia” chủ yếu là những “dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”. Dự án Ecopark đã được Thủ tướng phê duyệt, nếu chiểu theo Luật 2003, việc nông dân Văn Giang không chịu bị thu hồi nên bị cưỡng chế là hoàn toàn phù hợp với Điều 39.

Việt Nam không có một tối cao pháp viện để nói rằng Luật 2003 ở những điều khoản nói trên đã vi Hiến; Việt Nam cũng không có tư pháp độc lập để nông dân có thể kiện các quyết định của chính quyền. Chỉ vì không có niềm tin Hệ thống có thể mang công lý đến cho mình mà gia đình anh Đoàn Văn Vươn, hôm 5-1-2012, và 160 hộ dân Văn Giang, hôm 24-4-2012, phải chọn hình thức kháng cự chịu nhiều rủi ro như thế.

Cho dù “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, người dân chỉ có các quyền của người sử dụng. Nhưng, sở dĩ ai cũng gắn bó với mảnh đất mà mình đang cắm dùi là bởi: Đất ấy không phải được giao không từ quỹ đất công như những quan chức có đặc quyền, đặc lợi; Đất ấy họ đã phải mua bằng tiền; Đất ấy họ phải tạo lập bằng nước mắt, mồ hôi; Đất ấy là của ông cha để lại.

Không thể nói một thứ có thể quy đổi thành tiền mà không phải là tài sản. Không thể bỗng dưng một khối tài sản có khi phải đánh đổi cả cuộc đời lại có thể bị thu hồi. Không thể nhìn đất ấy đang làm lợi cho các đại gia qua quyết định hành chính của một cấp chính quyền, thường chỉ là, hàng huyện.

Đất đai của các doanh nghiệp, của nông dân, vì thế, phải được coi là “tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức”. Trong bài “Ba khâu Đột phá của Thủ tướng” tôi có đề nghị đa sở hữu hóa đất đai, công nhận quyền sở hữu đã có trên thực tế của người dân. Nhưng, sau gần một năm, tôi nghĩ là, những người lạc quan chính trị nhất cũng không còn hy vọng ấy. Cho dù chưa có những thay đổi về mặt ngôn từ thì việc tuân thủ Hiến pháp 1992 là điều không nên bàn cãi. Điều 18 Hiến pháp 1992, nói: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Nghĩa là việc giao đất cho dân là vô thời hạn. Khi bình luận về các điều khoản quy định thời hạn giao đất, chính một trong những tác giả chính của Luật Đất đai 1993, ông Tôn Gia Huyên, cũng cho rằng, Luật đã có “một bước lùi so với Hiến pháp”.

Hiến pháp đã cho “chuyển quyền sử dụng” có nghĩa là công nhận quyền ấy như một tài sản của người dân. Nghĩa là, thay vì “thu hồi đất” như các quy định trong Luật Đất đai, “trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia”, Nhà nước nên chiểu theo Điều 23 của Hiến pháp mà “trưng mua, trưng dụng”. Luật trưng mua – trưng dụng cũng nên định nghĩa minh bạch “lợi ích quốc gia” để phân biệt với “lợi ích của các đại gia”. Và khi trưng mua thì nên lấy giá giao dịch trên thực tế chứ không phải là giá hành chánh được nghĩ ra trong các phòng máy lạnh.

Với những dự án lớn, dụng chạm xã hội, như Ecopark, cho dù là tư nhân đầu tư, thì cũng nên đòi phải minh bạch trong từng bước đi. Phải buộc kiểm toán để thấy rằng, đất đai của nông dân chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng vốn đầu tư và mời nông dân tham gia bằng cách góp vốn và chia lãi theo tỉ lệ vốn bằng quyền sử dụng đất.

Vì sao trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia mà Hiến pháp vẫn yêu cầu phải trưng mua theo giá thị trường? Vì sao các nhà nước của dân vẫn đền bù thỏa đáng cho các trường hợp rủi ro ví dụ như bồi thường cho ai đó đang đi dưới hè đường bị một cành cây rơi trúng. Cái cành cây ấy, mọc ở ven đường, mang lại phúc lợi bóng mát cho hàng vạn con người nên khi nó gãy không thể để một người chịu thiệt.

Người dân Văn Giang không chống lại dự án Ecopark, người dân chỉ không đồng ý với giá và cách mà Chính quyền đền bù. Nếu con số 90% nông dân Văn Giang đã nhận đền bù là đúng thì cũng không thể coi 10% phản ứng là sai. Trước anh Đoàn Văn Vươn đã có những người cam chịu lệnh thu hồi đất của chính quyền Tiên Lãng.

Đừng nghĩ những người chân lấm tay bùn không biết tính toán. Đừng nghĩ nông dân không biết xót xa khi nhận chưa tới 150 nghìn đồng/ m2 rồi nhìn đất của họ được đem bán với giá hàng chục triệu đồng. Chính quyền nói, “chỉ có 30% diện tích được phục vụ vào mục đích kinh doanh, tức là phần chủ đầu tư làm nhà để bán, còn lại là diện tích đất dành cho phát triển giao thông, công trình phúc lợi, cây xanh”. Tất nhiên phải có phần hạ tầng và cây xanh này thì người ta mới đến Ecopark mua nhà. Nhưng, cho dù nó thực sự là phúc lợi thì cũng không thể đòi hỏi 1.500 hộ dân ở Văn Giang phải chịu thiệt cho các đại gia đến hưởng.

Sáng 17-4-2009, khi bị cưỡng chế thu hồi đất, chính người thân của Thủ tướng đương nhiệm cũng đã kháng cự. Cho dù 185 hecta đất cao su mà những người này có được ở huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, nhẹ nhàng hơn cách mà thường dân có được vài nghìn mét ruộng nương. Đất ấy họ được địa phương bán với giá bình quân 50 triệu/ hecta và sau đó khi thu hồi lại, Bình Dương đã đền bù mỗi hecta gần một tỉ. Tôi nhắc lại điều này chi để đề nghị tất cả ai quan tâm nên đặt mình trong vị trí của người dân Văn Giang. Từ các quan chức ra lệnh cho đến những cảnh sát đã đánh vào đầu dân đều phải nghĩ đến ngày đất đai của nhà mình bị Chính quyền cưỡng chế.

Đừng nghĩ Đoàn Văn Vươn hay Văn Giang là đơn lẻ. Không nên coi một chính sách luôn giữ kỷ lục trên dưới 80% tổng số người khiếu kiện trong suốt hơn 20 năm qua là không có gì sai. Cho dù quyết tâm cưỡng chế 160 hộ dân ở Văn Giang có thể chỉ vì lợi ích của một số cá nhân; có thể sau thất bại trong vụ Đoàn Văn Vươn, Chính quyền muốn cứng rắn để dập tắt khát vọng đòi đất của những nông dân muốn noi gương anh Vươn. Thì, hình ảnh cuộc cưỡng chế hôm 24-4-2012 đã trở thành một vết nhơ trong lịch sử.

Một chế độ luôn lo sợ mất ổn định không nên nuôi dưỡng quá nhiều những mầm mống đang làm mất ổn định. Một chế độ rất sợ các thế lực thù địch không nên tạo quá nhiều thù địch ngay chính trong lòng mình. Đất nước này tao loạn quá nhiều rồi, hơn ai hết người dân cũng cần ổn định.

Huy Đức

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Phản hồi

  • bui binh  On Tháng Tư 28, 2012 at 4:38 chiều

    chuc ANH t.hem nhieu suc khoe,dung khi va tran day sinh luc de thuc hien tron ven su mang ma ANH da dan than/gasitinh

  • Trần Văn Tùng  On Tháng Bảy 1, 2012 at 5:18 chiều

    Tks anh.

  • Trần Văn Tùng  On Tháng Bảy 1, 2012 at 5:20 chiều

    Đọc bài của anh tôi thấy rất thấm thía. Phải là kẻ mạnh mới có đủ dũng cảm đứng về phía những kẻ yếu đuối. Cám ơn anh rất nhiều. Mong anh luôn có đủ dũng cảm, ngòi bút sắc hơn gươm như vậy.

  • Tran hung  On Tháng Mười Hai 12, 2012 at 11:53 sáng

    Lần đầu tiên đọc blog của anh , hay quá , tuyệt quá, bình tỉnh nhẹ nhàng mà không kém đanh thép,cám ơn anh đã đứng về phía nhân dân. Tôi trân trọng
    những người như anh,nhân tài đất nước vẫn còn nhiều…Rồi cũng phải đến …tháng mười phải không anh ?

  • bình yên ảo  On Tháng Mười Hai 14, 2012 at 3:53 sáng

    Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm.Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

  • cao van dung  On Tháng Mười Hai 21, 2012 at 5:53 chiều

    Ngoi but cua Anh
    nhu thanh guom Duc TRAN HUNG DAO

  • Văn Giang  On Tháng Mười Hai 27, 2012 at 10:05 sáng

    Cám ơn anh đã nói lên tiếng nói bảo vệ người dân Văn Giang, sự thật ở Văn Giang thì ghê gớm hơn nhiều, chính quyền như một lũ Mafia dưới trướng là công an + xã hội đen được sự mua chuộc của nhà đầu tư thực chất là tay chân của cộng sản cấp cao ở hà nội bằng mọi thủ đoạn đê hèn, dã man, mất nhân tính nhất ép buộc, đàn áp, đâm chém dân ….hòng cướp đoạt đất đai từ tay nông dân. Trong khi giá đền bù 135k/m3 chỉ tương đương với một, hai năm họ tự sản xuất cây cảnh. Không thỏa thuận, miễn bàn bạc, chỉ một tờ A4 quyết định là lấy được 500 héc ta đất. Vậy chính quyền cộng sản còn ác hơn kẻ cướp. Việc cưỡng chế ác liệt vừa qua là hành động tàn ác nhất lịch sử trên vùng đất này từ xưa đến nay. Từ thời Pháp chiếm đóng, đến Mỹ, Ngay cả khi B52 đánh phá Hà Nội 12 ngày đêm thì vùng quê này vẫn yên bình tránh được bom rơi, đạn lạc.

  • tèo  On Tháng Một 12, 2013 at 5:19 chiều

    Tóm lại là dân vẫn mất đất , mà đại gia thì vẫn giàu thêm , ở VN mình bây giờ muốn sống yên ổn thì chỉ có cách phải là lưu manh thôi .

  • phong  On Tháng Hai 15, 2013 at 12:41 sáng

    HOI CHUONG CANH TINH CHE DO CONG SAN DA DIEM ROI. “TUC NUOC, VO BO”

  • Sầm sơn  On Tháng Hai 28, 2013 at 3:54 sáng

    Một nghìn năm đô hộ giặc Tầu, một trăm năm giặc Tây, 10 năm giặc Mỹ công lại cũng không tức cho bằng 70 năm Việt Nam dước chế độ cộng sản. Vì sao? vì các bọn giặc kia đều là kẻ lạ, còn ta thì….sao đểu cáng qúa?

  • phong  On Tháng Tư 29, 2013 at 3:11 sáng

    THÔNG TIN

    TỰ HÀO NGÔ BẢO CHÂU VÀ MỘT ‘GIẢ TƯỞNG’ RÙNG MÌNH

    Khánh Linh

    Tự hào Ngô Bảo Châu và trách nhiệm của các nhà lãnh đạo

    Niềm vui lấp lánh ngay khi Tuần Việt Nam đang tổng hợp phát ngôn hành động của tuần này, bởi một người Việt Nam được vinh danh trên đỉnh cao của Toán học thế giới: GS Ngô Bảo Châu nhận giải Fields 2010.

    Không cần nhắc lại ý nghĩa của giải Fields bởi đã tràn ngập trên các phương tiện thông tin đại chúng những ngày qua, nhưng người Việt Nam sẽ tự hào hơn khi GS Ngô Bảo Châu không chỉ là người Việt Nam đầu tiên đạt tới thành tựu này, mà thành tựu của anh đã đẩy Việt Nam lên thành quốc gia thứ hai của châu Á (chỉ sau Nhật Bản với 3 huy chương Fields vào các năm 1954, 1970, 1990) được vinh danh trên đỉnh cao của lĩnh vực toán học. Những cường quốc khoa học của châu Á như Hàn Quốc, Ấn Độ đều chưa chạm tay đến được giải thưởng, kể cả Trung Quốc cũng chưa thật sự có danh hiệu này, bởi Nhà toán học Terence Tao dù gốc gác là người Trung Quốc nhưng lại nhận giải thưởng vào năm 2006 với quốc tịch Úc/Mỹ.

    Tự hào, hạnh phúc trước thành tựu của GS Châu là điều đương nhiên, tự hào vì cái tên Việt Nam được sánh ngang các cường quốc năm châu trong lĩnh vực Toán học cũng là hoàn toàn chính đáng, nhưng xin đừng tự hào theo kiểu… adua: thấy người khác tự hào thì cũng tự hào, tự hào mà chẳng biết căn nguyên cội rễ ở đâu!

    Có một điều chắc chắn, giới Toán học Việt Nam đương nhiên có quyền tự hào nhất, bởi vinh quang của GS Châu kết tinh từ một thời kỳ hoàng kim của Toán học Việt Nam.
    Ngô Bảo Châu nhận Huy chương Fields. Ảnh: BBC

    Nói cách khác, anh Châu may mắn vì rời Việt Nam vào năm 1990, khi Toán học Việt Nam chưa xuống dốc, và thành công của anh cũng là thành công của những con người thuộc thế hệ đã làm nên giai đoạn hoàng kim ấy của Toán học. Thế hệ ấy có quyền tự hào vì một hậu duệ của họ đã bước lên đài vinh quang.

    Họ được an ủi và có động lực mạnh mẽ để bắt đầu “leo dốc”, đưa Toán học Việt Nam trở lại, biết đâu lại tốt đẹp như, thậm chí tốt đẹp hơn thời hoàng kim? Trọng trách ấy, tin chắc rằng các nhà Toán học đủ sức thực hiện, bởi trong hàng ngũ của họ không chỉ có một GS Ngô Bảo Châu đang trên đỉnh cao, mà đó là một khối gắn bó, thống nhất của những con người có chung niềm đam mê trong sáng mà ít ngành nghề khác có được.

    Đọc những chia sẻ của đủ các thế hệ trước và trong ngày GS Ngô Bảo Châu được vinh danh, có một niềm hạnh phúc “nhẹ nhàng” len trong trái tim của người viết bài: Dân Toán Việt Nam yêu thương, đoàn kết với nhau quá. Nhưng như GS kỳ cựu Hoàng Tụy đã tâm sự chân thành, Toán học Việt Nam vẫn có những hậu duệ của GS Lê Văn Thiêm, nhưng lại đang thiếu vị tư lệnh ngành như GS Tạ Quang Bửu, và một lãnh đạo cấp cao như Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày xưa, để tìm lại “một thời đã xa” của Toán học.

    Vậy là, trách nhiệm vinh quang đang được truyền đến các nhà lãnh đạo, mong sao niềm hạnh phúc khi trí tuệ Việt Nam ngang hàng với thế giới sẽ tiếp lửa để họ sáng suốt đưa ra những chính sách đúng đắn không chỉ với Toán học Việt Nam.

    Tái cơ cấu Vinashin: nín thở hy vọng…

    Vui thì quá vui, nhưng vẫn phải “trở lại” mặt đất để điểm danh thêm một vài phát ngôn hành động đáng chú ý tuần qua.

    Câu chuyện tập đoàn Vinashin trở lại “lai rai” tuần qua, bởi từ Bộ Chính trị đến Chính phủ đều tràn ngập quyết tâm sẽ tái cơ cấu thành công tập đoàn Vinashin, dù “Tái cơ cấu Vinashin không thể ngày một, ngày hai. Có thể sang năm thứ 4, thứ 5 mới có được một tập đoàn Vinashin đúng nghĩa. Do đó cần phải xác định rõ mục tiêu là củng cố, ổn định và phát triển để đảm bảo có được ngành công nghiệp tàu thủy phát triển mạnh với Vinashin làm nòng cốt” như lời Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, Trưởng ban chỉ đạo Tái cơ cấu Vinashin phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Ban chỉ đạo vào ngày 17.8.

    Đã có không ít những đề xuất ngược – xuôi, tiến – lùi được đưa ra sau sự đổ vỡ của Vinashin, nhưng khi đã có những quyết định từ cấp cao nhất thì cả hệ thống sẽ phải cùng vào cuộc, trong đó có một phần việc quan trọng là… thông tin tuyên truyền để dư luận xã hội ủng hộ.
    Khoản nợ khổng lồ 86.000 tỷ đồng của Vinashin đã làm choáng váng biết bao người dân Việt Nam, Ảnh Kimcokynhan

    Chẳng gì thì khoản nợ khổng lồ 86.000 tỷ đồng của Vinashin đã làm choáng váng biết bao người dân Việt Nam, những người cả đời không thể có nổi đến vài chục triệu đồng. Rõ ràng, đòi hỏi những người dân nghèo kia ủng hộ quyết tâm của Chính phủ sẽ khó hơn đòi hỏi những đại gia dễ dàng có tiền tỷ. Các cơ quan, tổ chức cùng thuộc nhà nước, kể cả các tỉnh thành như những người anh em cùng cha mẹ, chưa hẳn đã “hài lòng” nhưng sẽ dang tay giúp đỡ nhau thôi. Các nhà lãnh đạo chắc chắn hiểu rõ hơn ai hết, không thể để người dân đổ vỡ niềm tin thêm một lần nữa. 4 đến 5 năm là quãng thời gian dài, chỉ biết hy vọng lần này công cuộc tái cơ cấu Vinashin sẽ công khai minh bạch hơn, các ý kiến phản biện của chuyên gia được lắng nghe thấu đáo hơn, để con tàu Vinashin có thể chạy đúng hướng. Mong lắm thay!

    Rùng mình trước một giả tưởng…

    Nếu so sánh với một niềm vui tầm quốc gia, một vấn đề đại sự tầm quốc gia, thì chuyện những hồ sơ giả, bằng giả của lãnh đạo các tỉnh tự nhiên có phần “chẳng có gì là quan trọng”. Nhưng tưởng thế thôi, chứ vắt tay lên trán nghĩ thêm một tý, lại thấy chuyện bằng giả, hồ sơ giả cũng là chuyện quốc gia đại sự, bởi đây không còn là những trường hợp cá biệt, riêng lẻ nữa mà nó có chiều hướng phát triển như bệnh ung thư vào giai đoạn cần xạ trị.

    Câu chuyện Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh ủy Nghệ An Tô Hồng Hải làm giả hồ sơ để được xét tặng Huân chương Lao động hạng 3 được báo Lao động phát hiện, nào không khai việc cá nhân bị Ban thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An thi hành kỷ luật với hình thức khiển trách năm 2007, khi còn đương chức Bí thư Thành ủy TP.Vinh; nào không được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen, không liên tục đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, không đạt danh hiệu đảng viên liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, và “táo bạo” nhất là trong hồ sơ có bản trích Họp Hội đồng thi đua khen thưởng Ban tuyên giáo lập ngày 16/3, trong khi bản thân ông Đinh Lĩnh Lương – Chánh văn phòng Ban Tuyên giáo, người ký tên ở vị trí thư ký của biên bản trích ngang lại thừa nhận không tổ chức họp Hội đồng.
    Không họp Hội đồng Thi đua, nhưng vẫn làm giả biên bản. Ảnh VNN

    Cũng trong tuần lại có câu chuyện từ Sở GD – ĐT tỉnh Sóc Trăng trên báo Dân Việt (báo điện tử của tờ Nông thôn ngày nay). 59/933 bằng tốt nghiệp THPT là bằng giả, khiến huyện Mỹ Xuyên đã buộc 16 giáo viên phải thôi việc vì sử dụng bằng cấp giả, thậm chí sắp tới hơn 16.000 giáo viên của tỉnh sẽ bị kiểm tra văn bằng. Giá câu chuyện chỉ dừng ở đó để xã hội có thể tin “dùng bằng giả sẽ phải trả giá” thì hay biết mấy, đằng này có một mảng khác “tối” hơn nhiều, rằng giáo viên thì bị xử lý nghiêm, còn cán bộ thì lại xử lý… không nghiêm, ngoài những người đương chức thì có nhiều người được lên chức.

    Vài trường hợp được dẫn chứng cụ thể, nào từ công an xã lên đảm nhiệm chức vụ Kiểm tra Đảng của Đảng ủy xã Thạnh Phú, từ công an xã Ngọc Đông lên Phó Chủ tịch UBND xã Ngọc Đông, rồi có người lên làm Chủ tịch UBND xã Đại Tâm, người khác làm Chủ tịch UBND xã Viên An, rồi Phó Bí thư Đảng ủy xã Thạnh Phú… toàn những vị trí chủ chốt cả.

    Hai câu chuyện, một cá nhân, một tập thể, một hồ sơ giả để được vinh danh, một bên bằng giả để được vào làm việc, nhưng đều đáng đau lòng… như nhau. Bởi đây chỉ là những trường hợp bị phát hiện, còn “Kính thưa các đồng chí chưa bị lộ” thì sao?

    Tỉnh Sóc Trăng sẽ kiểm tra bằng cấp của đủ cả 16.000 giáo viên, còn những ngành nghề khác sắp tới có bị “sờ gáy” không? Các tỉnh thành khác trên toàn quốc có dũng cảm như Sóc Trăng không? Danh sách chưa bị lộ liệu dài đến mức nào? và cao đến cấp nào? là những câu hỏi không thể không đặt ra?

    Thoáng chút rùng mình nghĩ đến tình huống giả tưởng: nếu có một cuộc “tổng kiểm tra” bằng cấp của tất cả cán bộ nhà nước thì sẽ “rúng động” đến cỡ nào? Nhưng nếu đủ quyết tâm làm một lần, sẽ mổ xẻ được tận gốc căn bệnh thành tích đang hoành hành trong xã hội, sẽ phân biệt được thật giả và cắt cơn bệnh vàng lộn theo chì như hiện nay. Thậm chí, biết đâu sẽ phát hiện có những trường hợp cán bộ thật sự có năng lực nhưng vì không có bằng cấp thì không được vào làm việc, không được thăng chức, nên buộc lòng phải…xài bằng giả theo trào lưu?

    Vấn đề nằm ở chỗ, ta có đủ quyết tâm giải phẫu khối u này để dứt bệnh không, hay thà cứ vờ như ta đang khỏe, rồi đến một ngày đẹp giời nào đó có muốn xài dao kéo đại giải phẫu cũng không còn kịp nữa?

    Nguồn: TuanVietnam.net

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: