Đãng Tử Sám Hối

Nhà văn Duyên Anh bị bắt ngày 8-4-1976, cùng với nhiều văn nghệ sỹ Sài Gòn khác, sau khi xảy ra “Vụ án Hồ Con Rùa”. Ông ở tù tới ngày 11-7-1981. Thời gian chuyển từ Chí Hòa lên trại cải tạo Xuyên Mộc, Duyên Anh lấy ra một bài thơ có tựa đề là “Đãng Tử Sám Hối”, viết bằng thuốc xức ghẻ trên bao giấy xi măng, dặn bạn tù Đoàn Kế Tường: “Mày học thuộc bài thơ này cho tao, trong đêm nay, mai phải hủy tờ giấy này. Tao nói với mày là tao sám hối với đất nước, vợ con và bạn bè, những người chiến đấu thực sự, còn bọn xôi thịt, tao chẳng có gì phải nói với chúng nó. Mày còn trẻ ráng sống mai mốt về đọc cho vợ con tao nghe”.

Duyên Anh ra tù trước Đoàn Kế Tường 4 năm rồi sau đó ông vượt biên. Ông không thuộc bài thơ này của mình còn Đoàn Kế Tường thì chưa một lần có cơ hội để đọc cho vợ con ông nghe. Ông Tường nói: “Tôi nợ anh Duyên Anh”.

Bao nhiêu năm qua Đoàn Kế Tường vẫn thuộc lòng bài thơ này, ông đọc cho tôi nghe trong dịp 30-4-2012 và tôi hứa với ông Tường sẽ đưa bài thơ này lên FB, coi như ông đang đọc cho những người thân của nhà văn Duyên Anh.

Em yêu dấu

Anh xa nhà lâu quá

Ba năm qua sỏi đá cũng ưu phiền

Ba năm qua ở một cõi đời riêng

Gót phiêu lãng đặt lên miền đất lạ

Và nơi đó diệu kỳ thay em ạ

Anh soi anh trong gương kiếng nhiệm màu

Thấy mình xưa và thấy cả mình sau

Treo lơ lửng trên cành cây phán xét

Ôi sự nghiệp con cáo già quỷ quyệt

Dối lừa nhau chuyện rắn rít yêu ma

Ta dại khờ múa hát giữa ngàn hoa

Ca bóng tối cứ ngỡ là ánh sáng

Ta ru hồn ta tháng ngày bệnh hoạn

Với kiêu sa dị hợm chút tài hèn

Hỡi cánh diều căng gió vút bay lên

Ngạo nghễ lắm mà quên dây sắp đứt

Mũi tên oan phóng đi không thương tiếc

Lưỡi gươm đau chém nát đóa môi cười

Anh nhìn anh xưa thế đó em ơi

Những đổ vỡ của một thời lang bạt

Cái trớn đời hoang phỉnh phờ đốn mạt

Đưa anh vào hình phạt khó lòng quên

Chính những đường gươm, chính những mũi tên

Anh đã bắn trúng tim em rướm máu

Anh đã giết tình em, em yêu dấu

Đã chôn vùi hạnh phúc em mơ

Đã bắt em điên dại thẫn thờ

Giữ hạnh phúc bằng đêm đen nước mắt

Anh mải chơi, em héo hon lay lắt

Cuộc chơi tàn, anh chân đất lưu đày

Em phương nhà níu bám mảng tương lai

Níu mảng mục sông sâu mùa nghịch lũ

Tuổi trẻ ta không bao giờ còn nữa

Nhưng tình yêu hạnh phúc vẫn y nguyên

Vẫn xanh thơm như thuở mới yêu em

Vẫn nguyên vẹn như thời từng mơ ước

Chuyện quê hương nhìn lại mình anh biết

Mọi oan khiên rồi sẽ được đền bù

Anh trở về đất cháy lỗi lầm xưa

Thắp nắng mật cho em ngoan hong tóc

Em cứ khóc tự nhiên, em cứ khóc

Có cuộc đời nào thiếu nước mắt đâu em

…(mất một câu)

Phải nóng bỏng như đêm mùi trăng mật

Rồi giá băng như ngày đắng cô đơn

Phải mưa sa gió bão giận hờn

Gió cắt thịt da, mưa hồng hôn má

Như trời đất có mưa xuân nắng hạ

Tình yêu

Tổ quốc

Chúng mình

Thế đó em ơi!

Advertisements
Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Bình luận

  • Nguyen van chinh  On Tháng Năm 19, 2012 at 1:47 chiều

    Anh Huy Đức ơi, Trung Quốc đang xâm lược Philippines, sắp làm thịt Việt Nam mà không thấy anh viết bài gì cho bọn em cảm thấy bớt lo lắng. Chỉ có anh với những nhận định sáng suốt của mình mới làm cho chúng em thấy vững vàng hơn. Mong bài của anh lắm.
    Một fan của anh

  • buibinh  On Tháng Năm 23, 2012 at 3:51 chiều

    bai tho hay qua! toi cung dang ”soi” lai Minh day/camon DOANKETUONG.camon Ban/gasitinh

  • ttxcc6  On Tháng Mười 9, 2012 at 6:41 chiều

    -Qua Anh xin Bài “Bẩy việt vị”- Gặp Bà này- Nhưng có một chỗ tôi hơi “lơ mơ” (tôi dốt Thơ Văn nhưng lại thích- Và vì bài này gợi nhớ Duyên Anh: Bồn lừa- Ngựa chứng trong sân trường- Thằng Khoa …)
    “Anh trở về đất cháy lỗi lầm xưa” : ĐẤT hay ĐỐT vậy Anh Huy Đức??Vì câu dưới có chữ “thắp”.
    Qua Bài này tôi mới biết Anh TKT vẫn “tại vị”- Hồi trước tôi rất thích đọc của các Anh này.
    Cám ơn Anh HĐ.

  • phong  On Tháng Tư 28, 2013 at 11:59 chiều

    Thụy An sinh tại Hà Nội, nhưng quê gốc ở làng Hòa Xá, quận Vân Đình, tỉnh Hà Đông, là con ông Lưu Tiến Ích và bà Phùng Thị Tôn.

    Có khiếu thơ văn từ nhỏ nên năm 13 tuổi, bà đã có thơ đăng trên báo Nam Phong (1929) và 3 năm sau, lại nhận được giải thưởng văn chương của Triều đình nhà Nguyễn.

    Chồng Lưu Thị Yến là nhà văn, nhà giáo Bùi Nhung[2] bút hiệu là Băng Dương, em ruột học giả Bùi Kỷ. Nhưng sau khi bà sinh được 6 người con[3], thì ly thân với chồng từ 1949.[4] Người tình của Lưu Thị Yến là ông Đỗ Đình Đạo, một nhân vật quan trọng của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau ông Đỗ Đình Đạo chết vì một nguyên do còn nhiều nghi vấn[5].

    Trong thời kỳ Nhân Văn–Giai Phẩm, nhà văn Phan Khôi nhận Lưu Thị Yến là con nuôi. sau khi báo Nhân Văn và Giai Phẩm bị đình bản, bà bị bắt năm 1958 và trong phiên tòa ngày 21 tháng 1 năm 1960 xét xử bà tại Hà Nội, nhiều nhân chứng đều cho rằng bà đã có ảnh hưởng không nhỏ đối với một số văn nghệ sĩ tham gia phong trào này. Tuy nhiên, những người trong cuộc như Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt [6] phủ nhận sự tham gia của bà trong nhóm.[7]

    Năm 1973, Lưu Thị Yến cùng với Nguyễn Hữu Đang, cũng bị tù vì vụ Nhân Văn–Giai Phẩm, được thả trong diện “Đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris”. Vào thành phố Hồ Chí Minh, bà quy y ở Chùa Quảng Hương Già Lam năm 1987 và mất năm 1989, tại nhà riêng ở đường Lê Văn Sỹ[8].
    ( wikipedia.org)

    Ông Quang A cũng nói về mối nguy hiểm đối với nhà cầm quyền khi dùng cách đè nén ngôn luận thay vì thẳng thắn trao đổi, và cho rằng, chính quyền càng làm như vậy thì “sự kết liễu của chế độ toàn trị sẽ xảy ra sớm hơn”, và cái giá phải trả sẽ rất cao. (bbcvietnamese.com )

Trackbacks

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: